Can Chi là gì? Ý nghĩa và ứng dụng lớn lao của Can Chi trong đời sống

Can Chi vốn rất quen thuộc với chúng ta, thế nhưng không phải ai cũng hiểu rõ khái niệm Can Chi là gì và những ý nghĩa cũng như ứng dụng của nó. Nếu bạn còn điều gì chưa rõ, hãy theo dõi bài viết dưới đây!

1. Can Chi là gì và sự phối hợp của Can Chi

Can chi hay còn có cách gọi khác là Thiên Can, Địa Chi hoặc Thập Thiên Can, Thập Nhị Địa Chi. Đây vốn là những đơn vị rất quen thuộc và gần gũi đối với người dân Á Đông, thường được sử dụng trong việc tính hệ thống lịch pháp cũng như các ngành học thuật khác.

Loading...

Tuy vậy, nguồn gốc của Can Chi không thật rõ ràng, có sách cho rằng Can Chi do Đại Sào phát hiện ra cách tính Can Chi thông qua việc đếm các đốt ngón tay, trong đó Giáp, Ất, Bính, Đinh… dùng để đặt tên cho các ngày trong năm, gọi chung là Thiên Can, còn Tý, Sửu, Dần, Mão được dùng để đặt cho các tháng trong năm, gọi chung là Địa Chi.

10 Thiên Can gồm có: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý

12 Địa Chi gồm có: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi

Khi đã xây dựng được 10 Thiên Can và 12 Địa Chi thì người ta phối hợp hai yếu tố này lại để tính năm, tháng, ngày, giờ.

Sự phối hợp đầu tiên là ghép hai đơn vị đầu của Can và Chi lại, ta được Giáp Tý, tiếp đó sẽ đến Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão… Cứ ghép lần lựa như vậy, ta sẽ được ghép được 60 lần. Do vậy, chu kỳ phối hợp của Thiên Can và Địa Chi sẽ là 60.

2. Ý nghĩa của Can Chi

Sau khi biết Can Chi là gì, ta cũng nên biết thêm về ý nghĩa của Can Chi. Quan niệm cho rằng người xưa lấy 10 Thiên Can để miêu tả chu kỳ tuần hòa của Mặt Trời có tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của vạn vật. Cụ thể:

(I) Giáp: Có nghĩa là mở, ý chỉ dấu hiệu vạn vật được tách ra, bắt nguồn sự sống.

Loading...

(II) Ất: Có nghĩa là kéo, ý chỉ quá trình vạn vật bắt đầu quá trình nhú mầm, sinh trưởng

(III) Bính: Có nghĩa là sự đột ngột, khi vạn vật bắt đầu lộ ra trên mặt đất

(IV) Đinh: Có nghĩa là mạnh mẽ, khi vạn vật bước vào quá trình phát triển mạnh mẽ

(V) Mậu: Có nghĩa là rậm rạp, tức chỉ giai đoạn vạn vật bắt đầu xanh tốt

(VI) Kỷ: Có nghĩa là ghi nhớ, chỉ giai đoạn vạn vật bắt đầu thành hình để phân biệt được.

(VII) Canh: Có nghĩa là chắc lại, khi vạn vật bắt đầu kết quả.

(VIII) Tân: Có nghĩa là mới, vạn vật bước vào thời kỳ thu hoạch.

(IX) Nhâm: Có nghĩa là gánh vác, ý chỉ dương khí có tác dụng nuôi dưỡng vạn vật.

(X) Quý: Có nghĩa là đo, chỉ sự vật khi đã có thể đo lường được.

12 Địa chi dùng để miêu tả chu kỳ vận động của Mặt Trăng, gây tác động đến quá trình phát triển của sinh vật. Trong đó:

(1) Tý: Là nuôi dưỡng, tu bổ, tức vạn vật bắt đầu nảy nở nhờ có dương khí.

(2) Sửu: Là kết lại, khi các mầm non tiếp tục quá trình lớn lên.

(3) Dần: Là sự thay đổi, dẫn dắt, khi các mầm non bắt đầu vươn lên khỏi mặt đất.

(4) Mão: Là đội, khi tất cả vạn vật đã nứt khỏi mặt đất để vươn lên.

(5) Thìn: Là chấn động, chỉ quá trình phát triển của vạn vật sau khi trải qua biến động.

(6) Tị: Là bắt đầu, khi vạn vật đã có sự khởi đầu.

(7) Ngọ: Là tỏa ra, khi vạn vậy đã bắt đầu mọc cành lá.

(8) Mùi: Là ám muội, khi khí âm bắt đầu xuất hiện, khiến vạn vật có chiều hướng phát triển yếu đi.

(9) Thân: Là thân thể, khi vạn vật đều đã trưởng thành.

(10) Dậu: Là sự già cỗi, khi vạn vật đã già đi.

(11) Tuất: Là diệt, tức chỉ đến một thời điểm nào đó, vạt vật sẽ đều suy yếu và diệt vong.

(12) Hợi: Là hạt, khi vạn vật lại quay trở về hình hài hạt cứng.

Từ đây, ta có thể thấy việc 10 Thiên Can và 12 Địa Chi được xây dựng dựa trên sự nhận thức đặc điểm hoạt động của Mặt Trời và Mặt Trăng.

Người xưa thường lấy Mặt Trời và Trời làm dương, còn Mặt Trăng và Đất để làm âm, do đó lẽ dĩ nhiên, 10 Thiên Can được phối với trời, 12 Địa Chi phối với đất, vậy nên mới hình thành tên gọi Thiên Can và Địa Chi.

Ngoài ra, các Chi vốn không được gán với các con vật ngay từ đầu như mọi người vẫn nghĩ. Đến khoảng đầu Công nguyên, người Trung Hoa mới gán các chi với các con vật.

Tuy nhiên, nguồn gốc của việc này không quá rõ ràng, có ý kiến cho rằng việc này gắn với truyền thuyết trong Phật giáo, thứ tự 12 con giáp là thứ tự của 12 con vật đã đến từ biệt khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập cõi Niết Bàn.

Lần lượt là: Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (Mèo, thỏ), Thìn (rồng), Tị (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn).

3. Âm dương Ngũ hành của Can Chi

Từ thời xưa, người Trung Hoa đã đưa ra thuyết Ngũ hành về 5 yếu tố cấu tạo nên vật chất của thế giới và mỗi yếu tố có một tính chất riêng biệt, cụ thể:

Kim: Kim loại, có tính cứng rắng, bền chắc và lạnh lẽo

Mộc: Gỗ, có khả năng tăng trưởng, dẻo dai, sức chịu đựng tốt

Thủy: Nước, có tính mềm mại, giỏi thích nghi nhưng dễ biến đổi

Hỏa: Lửa, tính nóng, sáng tỏ, linh hoạt

Thổ: Đất, đầy đặn, khả năng chịu đựng tốt, cái nôi của vạn vật.

Nguồn gốc của cả 5 yếu tố này đều bắt nguồn từ Thái Cực, là trạng thái hoàn toàn sơ khai, chưa hề có sự phân chia, mang tính toàn thể của vạn vật.

Bên cạnh đó, theo Kinh Dịch, “Thái Cực sinh lưỡng nghi”, tức Thái Cực cũng là nguyên nhân nảy sinh 2 yếu tố Âm và Dương (Lưỡng nghi).

Vì vậy, ta lập được bảng sau:
Thiên CanĐịa ChiÂm DươngNgũ hành
GiápDầnDươngMộc
ẤtMãoÂm
BínhTịÂmHỏa
ĐinhNgọDương
MậuThìn, TuấtDươngThổ
KỷSửu, MùiÂm
CanhThânDươngKim
TânDậuÂm
NhâmHợiÂmThủy
QuýDương
4. Phương vị và mùa vượng của Can Chi

Phương vị của Can Chi được xác định thông qua việc quan trắc sự vận động của Mặt Trời, Mặt Trăng và Ngũ tinh trong bầu trời.

Vạn vật trong vũ trụ đều trải qua bốn thời kỳ: Sinh, thịnh, suy, tử. Thời kỳ thịnh tức là thời kỳ “nắm lệnh”. Người ta cũng có thể lấy Can Chi để biểu tượng cho việc này.

Kết hợp cả hai yếu tố phương vị và mùa vượng của Can Chi, ta có thể lập nên bảng tổng hợp sau:

Thiên CanĐịa ChiPhương vịMùa vượng
GiápDầnĐôngXuân
ẤtMão
BínhTịNamHạ
ĐinhNgọ
MậuThìn, TuấtỞ giữaTháng cuối mỗi mùa
KỷSửu, Mùi
CanhThânTâyThu
TânDậu
NhâmHợiBắcĐông
Quý
5. Nghề nghiệp đại diện cho Can Chi

– Thiên Can Giáp, Ất và Địa Chi Dần, Mão thuộc Mộc: Đại diện cho các nghề sơn lâm, chế biến gỗ, giấy, sách báo, đóng thuyền, làm vườn, trồng cây cảnh hoặc sản xuất trang phục, nghề dệt…

– Thiên Can Bính, Đinh và Địa Chi Tị, Ngọ thuộc Hỏa: Đại diện cho các nghề thuốc súng, nhiệt năng, quang học, xăng dầu, các sản phẩm đồ điện, cao su, hóa học, luyện kim…

– Thiên Can Mậu, Kỷ và Địa Chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thổ: Đại diện cho các nghề nông nghiệp, chăn nuôi, khai hoang, các công việc giao dịch về đất đai, buôn bán bất động sản, nghề sản xuất phân bón, thức ăn cho gia súc, khoáng vật, đất đá, gạch ngói, xi măng, đồ gốm, đồ cổ, xây dựng,…

– Thiên Can Canh, Tân và Địa Chi Thân, Dậu thuộc Kim: Đại diện cho các nghề khai thác và buôn bán vàng bạc, châu báu, khoáng sản, kim loại, sản xuất máy móc, thiết bị nghiên cứu hóa học, thủy tinh, các công cụ giao thông,…

– Thiên Can Nhâm, Quý và Địa Chi Hợi, Tý thuộc Thủy: Đại diện cho các nghề nước giải khát, hoa quả, đồ trang sức mỹ nghệ, hóa mỹ phẩm, giao thông vận tải, vận chuyển hàng hóa, chăn nuôi thủy hải sản, mậu dịch, du lịch, khách sạn, buôn bán,….

6. Ứng dụng của Thiên Can trong dự đoán vận mệnh con người

Sau khi tìm hiểu Can Chi là gì, hẳn ta cũng có thể mường tượng được rằng 2 yếu tố này có tác dụng rất quan trọng trong việc dự đoán vận mệnh của mỗi người.

Dựa vào ngày sinh do Can ngày và Chi ngày hợp thành, ta có thể xem Can ngày có vượng tướng hoặc bị khắc hại hay không. Nếu không thì bản tính của can ngày sẽ rất rõ ràng, có thể dùng làm tiêu chí dự đoán tính cách của một người.

– Giáp (Mộc) thuộc Dương: Chỉ cây to, có tính chất khỏe mạnh, cường tráng nơi đại ngàn, là bậc đàn anh trong các loài mộc. Tượng trưng cho tính cương trực, ý thức kỷ luật cao.

– Ất (Mộc) thuộc Âm: Chỉ những loài cây cỏ hoặc cây nhỏ, có tính yếu mềm, là em gái trong các loài mộc. Tượng trưng cho tính cách cẩn thận và cố chấp.

– Bính (Hỏa) thuộc Dương: Chỉ Mặt Trời, sự vật sáng và rất nóng, là anh cả của Hỏa. Tượng trưng cho tính cách nhiệt tình, hào phóng nhưng nông nổi, thích hợp hoạt động xã giao nhưng dễ bị hiểu lầm là hiếu danh, hiếu thắng.

– Đinh (Hỏa) thuộc Âm: Chỉ ngọn lửa của đèn hoặc bếp lò, có tính chất mạnh yếu không ổn định, là em gái của các loại Hỏa. Tượng trưng cho tính cách bên ngoài trầm tĩnh nhưng bên trong sôi nổi.

– Mậu (Thổ) thuộc Dương: Chỉ vùng đất rộng lớn, màu mở, hoặc đất ở đê, đập, có sức cản nước lũ, là anh cả của Thổ. Tượng trưng cho tính cách giỏi xã giao, coi trọng vẻ bề ngoài nhưng nhiều khi thiếu chính kiến.

– Kỷ (Thổ) thuộc Âm: Chỉ đất ruộng vườn, tuy không quá rộng rãi, phì nhiêu nhưng thích hợp trồng trọt, là em gái của Thổ. Tượng trưng cho tính cách cẩn thận, tỉ mỉ nhưng không rộng lượng.

– Canh (Kim) thuộc Dương: Chỉ sắt thép, khoáng sản cứng rắn, là anh cả của Kim. Tượng trưng có tính cách tài hoa, thích hợp làm kinh tế hoặc văn học.

– Tân (Kim) thuộc Âm: Chỉ vàng, bạc, đá quý, là em gái của Kim. Tượng trưng cho tính cách kiên trì, bền bỉ, tự khắc phục được khó khăn nhưng cũng đầy ngoan cố.

– Nhâm (Thủy) thuộc Dương: Chỉ nước trong biển cả, là anh cả của Thủy. Tượng trưng cho tính cách khoan dung, hòa phóng nhưng cũng ỷ lại hoặc chậm chạp.

– Quý (Thủy) thuộc Âm: Chỉ nước mưa, là em gái của Thủy. Tượng trưng cho tính cách chính trực, cần mẫn, dù gặp khó khăn cũng không lùi bước.

7. Ứng dụng của Địa Chi trong việc tính giờ

Người xưa có thói quen quan sát để nắm rõ tập tính sinh hoạt của từng con vật trong từng khoảng thời gian trong ngày. Để dễ nhớ và gần gũi hơn, người ta đã dùng 12 con vật để biểu thị cho 12 Địa Chi, đồng thời để tính các khoảng thời gian trong ngày. Cụ thể:

– Giờ Tý (23h-1h): Nửa đêm là khoảng thời gian loài chuột kiếm ăn và hoạt động mạnh nhất

– Giờ Sửu (1h-3h): Đây là thời gian trâu bò nhai lại thức ăn

– Giờ Dần (3h-5h): Khoảng thời gian hổ trở về hang sau khi đi săn mồi

– Giờ Mão (5h-7h): Đây là thời điểm mèo nghỉ ngơi sau khi đi săn chuột

– Giờ Thìn (7h-9h): Người xưa lấy rồng làm một hình ảnh biểu tượng cho mình, đây là khoảng thời gian con người cảm thấy thoải mái, làm việc năng suất nhất

– Giờ Tỵ (9h-11h): Khoảng thời gian rắn ẩn mình trong hang

– Giờ Ngọ (11h-1h): Khoảng thời gian ngựa phải vận chuyển hàng hóa, làm việc vất vả nhất trong ngày

– Giờ Mùi (13h-15h): Giờ dê ăn cỏ

– Giờ Thân (15h-17h): Thời gian khỉ tìm về hang sau khi đã kiếm ăn trong rừng

– Giờ Dậu (17h-19h): Khoảng thời gian gà lên chuồng sau một ngày kiếm ăn

– Giờ Tuất (19h-21h): Đây là thời điểm chó nhà sủa nhiều nhất trong ngày

– Giờ Hợi (21h-23h): Thời điểm lợn bắt đầu ngủ

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo!

An Nhiên!

Loading...